18/5/26

 

BẢO VỆ “QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ” NHIẾP ẢNH – CHÌA KHOÁ MỞ CỬA CHO CÔNG NGHIỆP VĂN HOÁ VIỆT NAM

Ngày 14/11/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2486/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm được xác định là một trong những lĩnh vực trọng tâm. Đây không chỉ là sự ghi nhận vị trí của nhiếp ảnh trong đời sống nghệ thuật mà còn là một thông điệp rõ ràng: Nhiếp ảnh cần được nhìn nhận như một ngành sản xuất giá trị văn hóa và giá trị kinh tế.


Nhưng để nhiếp ảnh thực sự trở thành một phần của nền công nghiệp văn hóa, câu hỏi quan trọng cần đặt ra là: Liệu chúng ta đã bảo vệ được tài sản cốt lõi nhất của người sáng tạo – Quyền sở hữu trí tuệ? Bởi sẽ là một nghịch lý nếu một ngành được kỳ vọng tạo ra giá trị kinh tế, quảng bá hình ảnh quốc gia, lưu giữ ký ức văn hóa nhưng chính sản phẩm của ngành ấy lại đang bị sử dụng vô tội vạ, bị sao chép, cắt ghép, thương mại hóa mà thiếu sự tôn trọng tối thiểu dành cho tác giả.
Trong thời đại truyền thông số, một bức ảnh đẹp về Việt Nam có thể đi xa hơn hàng nghìn lời quảng bá. Một khuôn hình về phố cổ Hà Nội, về ruộng bậc thang Tây Bắc, văn hóa Tây Nguyên hay đời sống ngư dân miền biển không chỉ mang giá trị nghệ thuật, mà còn có khả năng kích thích du lịch, quảng bá thương hiệu địa phương, tạo cảm hứng cho điện ảnh, xuất bản, giáo dục và truyền thông. Nói cách khác, nhiếp ảnh đang trực tiếp tham gia vào chuỗi giá trị của nền công nghiệp văn hóa.
Nhiều quốc gia đã biến kho dữ liệu ảnh thành nguồn tài nguyên kinh tế có giá trị lớn. Ảnh được cấp phép khai thác bản quyền, trở thành tư liệu quảng bá quốc gia, xuất hiện trong sách, triển lãm, sản phẩm lưu niệm và môi trường số. Trong khi đó ở Việt Nam, dù có đội ngũ sáng tác đông đảo và nhiều tác phẩm đạt giải quốc tế, giá trị kinh tế từ nhiếp ảnh vẫn chưa tương xứng.Một trong những nguyên nhân lớn nhất nằm ở chính sự lỏng lẻo trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Một thực tế đáng buồn là ảnh bị sử dụng như tài sản vô chủ”. Nhiều nhiếp ảnh gia Việt Nam đều từng trải qua cảm giác chua chát khi bắt gặp tác phẩm của mình xuất hiện ở nơi nào đó mà không hề được hỏi ý kiến.Từ pano ngoài phố, quầy bán hàng lưu niệm, website du lịch, fanpage thương mại đến những chiến dịch quảng bá địa phương. Không ít bức ảnh bị sử dụng không ghi tên tác giả, không xin phép và không trả bất kỳ khoản nhuận quyền nào. Thậm chí có những tác phẩm bị cắt cúp, chỉnh sửa, xóa watermark rồi sử dụng cho mục đích thương mại như điều hiển nhiên.
Một điều đáng suy nghĩ là: nếu những hành vi ấy xảy ra với âm nhạc, điện ảnh hay xuất bản, dư luận sẽ phản ứng mạnh mẽ. Nhưng với nhiếp ảnh, sự vi phạm lại thường bị xem nhẹ. Có lẽ vì ảnh quá dễ sao chép. Nhưng dễ sao chép không đồng nghĩa với việc được phép chiếm dụng. Đằng sau mỗi bức ảnh là chi phí sáng tác, công sức, kỹ năng, sự đánh đổi thời gian, thậm chí là cả hiểm nguy của người cầm máy. Có những khoảnh khắc thiên nhiên phải chờ nhiều tuần lễ. Có những hành trình vùng cao, biên giới, biển đảo mà người chụp phải tự bỏ kinh phí và đối diện không ít rủi ro. Nếu tác phẩm dễ dàng bị lấy đi mà không được bảo vệ, thì người thiệt thòi nhất chính là những người đang trực tiếp tạo nên vốn hình ảnh của quốc gia.
Điều đặc biệt ở Việt Nam kho tư liệu hình ảnh quý giá về đất nước được tạo ra bởi đội ngũ nghệ sỹ nhiếp ảnh đông đảo và những người cầm máy bằng đam mê. Họ là nhà báo, giáo viên, kỹ sư, công chức, doanh nhân hay người lao động bình thường nhưng cùng chung tình yêu với hình ảnh đất nước và con người Việt Nam. Không ít người tự bỏ tiền túi để đi sáng tác, tự lưu giữ văn hóa dân gian, di sản thiên nhiên, đời sống cộng đồng và những khoảnh khắc đang dần mất đi trong nhịp phát triển hiện đại. Có thể nói, đây là một “đội quân thị giác” đặc biệt, đang âm thầm góp phần tạo nên nguồn tài nguyên cho công nghiệp văn hóa với chi phí xã hội rất thấp.
Nhưng nghịch lý là: Họ đang đóng góp rất nhiều trong khi lại được bảo vệ quá ít. Khi bản quyền bị xâm phạm kéo dài, sự hào hứng sáng tạo sẽ giảm đi. Người nghệ sĩ sẽ không còn động lực để đầu tư cho những dự án dài hơi, những bộ ảnh công phu hay những hành trình sáng tác tốn kém. Và khi đó, công nghiệp văn hóa sẽ mất đi nguồn nguyên liệu quý giá nhất: nội dung sáng tạo gốc.
Muốn có công nghiệp văn hoá, phải bắt đầu từ sự tôn trọng tác quyền. Một nền công nghiệp văn hóa không thể phát triển trên nền tảng của việc sử dụng miễn phí chất xám. Muốn nhiếp ảnh thực sự trở thành ngành công nghiệp sáng tạo, đã đến lúc cần nhìn nhận bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không phải là việc phụ, mà là điều kiện tiên quyết.
Cần mạnh tay hơn với các vi phạm bản quyền ảnh. Cần cơ chế định giá, giao dịch và khai thác ảnh minh bạch. Cần xây dựng ngân hàng dữ liệu ảnh quốc gia và hành lang pháp lý đủ mạnh để người sáng tạo được bảo vệ. Quan trọng hơn cả, cần thay đổi nhận thức xã hội rằng: Một bức ảnh không phải “tư liệu miễn phí trên mạng”, mà là tài sản trí tuệ của người sáng tạo. Bởi nếu những người tạo ra hình ảnh đẹp về Việt Nam không được bảo vệ, thì mục tiêu xây dựng một nền công nghiệp văn hóa mạnh sẽ rất khó đi đến đích. Suy cho cùng, muốn mở cánh cửa công nghiệp văn hóa Việt Nam, chiếc chìa khóa đầu tiên phải là sự tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ.

14/5/26

 

Nỗi buồn nhiếp ảnh: Khi ảnh đẹp Hà Nội thành tấm che hố công trường

Việc sử dụng những bức ảnh về biểu tượng của Hà Nội như Hồ Gươm, Văn Miếu, Lăng Bác làm rào chắn công trình đang khiến nhiều nhiếp ảnh gia cảm thấy chạnh lòng. Cùng với đó, việc các hình ảnh không rõ 'nguồn gốc' xuất hiện giữa trung tâm thủ đô cũng đặt ra câu hỏi về vấn đề tác quyền.

Hà Nội đang gấp rút cải tạo hệ thống thoát nước để kịp trước mùa mưa. Đường đào lên, cống mới được thay thế, bụi bẩn và mặt đường gập ghềnh là điều người dân có thể chia sẻ, bởi ai cũng hiểu đó là việc cần làm.

Nhưng giữa những công trường ngổn ngang ấy, có một điều khiến người ta chạnh lòng. Đó là những bức ảnh đẹp về Hà Nội được dùng làm rào chắn công trình.

Hồ Gươm, Văn Miếu, Lăng Bác… những biểu tượng linh thiêng gắn với tình cảm của người dân Thủ đô xuất hiện trên các tấm bạt nhỏ với ý tưởng có lẽ là để làm dịu đi sự nhếch nhác của công trường. Nhưng rồi chính những bức ảnh ấy lại phủ bụi, dính bùn đất, bị dây chằng ngang, mép quăn lại như một vật liệu phụ trợ vô tri gây phản cảm.

Điều đáng nói hơn, hầu hết không có tên tác giả, không nguồn gốc xuất xứ.

Ai là người đã chụp những bức ảnh này? Họ đã mất bao ngày tháng, bao công sức để săn được khoảnh khắc đẹp của Hà Nội? Và nếu một ngày vô tình đi qua, thấy tác phẩm của mình bị treo bên hố đào, phủ bùn đất công trường mà không một dòng ghi nhận, liệu họ có buồn không?

Đây không chỉ là câu chuyện bản quyền nhiếp ảnh, mà còn là cách ứng xử với sáng tạo và với chính vẻ đẹp của Hà Nội.







Nếu muốn làm đẹp công trường bằng hình ảnh Thủ đô, điều đó rất đáng hoan nghênh. Nhưng ít nhất, hãy ghi tên tác giả, xin phép sử dụng và đối xử với những bức ảnh ấy bằng sự trân trọng hơn.

Bởi một thành phố văn minh không chỉ đẹp ở cảnh quan, mà còn đẹp ở cách người ta tôn trọng cái đẹp. 

Nguyễn Kỳ Nam

 Nỗi buồn nhiếp ảnh: Khi ảnh đẹp Hà Nội thành tấm che hố công trường


13/5/26

 

Vi phạm bản quyền nhiếp ảnh: Cần truy xét tận gốc 'đường đi' của tác phẩm


Đã đến lúc chúng ta không thể gọi việc lấy ảnh của người khác là "nhầm lẫn" hay "vô ý". Đó là một hành vi xâm hại nghiêm trọng đến danh dự, mồ hôi và cả "sinh mạng" của nghệ sĩ.

 Với tư cách là một người cầm máy và cũng là nạn nhân trực tiếp của vấn nạn này, tôi muốn lột trần con đường đi của những bức ảnh bị đánh cắp.


"Lỗ hổng" an ninh từ những kho dữ liệu online

Trong kỷ nguyên số, các cuộc thi nhiếp ảnh tại Việt Nam hầu hết đã chuyển sang hình thức chấm thi online. Đây là bước tiến về công nghệ, nhưng lại đang lộ ra một kẽ hở an ninh đáng báo động. Hiện nay, phần lớn các đơn vị tổ chức đang thuê hoặc sử dụng nền tảng phần mềm của các cá nhân, đơn vị tư nhân.

Điều này đồng nghĩa với việc hàng nghìn tệp tin (file) ảnh gốc, có độ phân giải cao và giá trị thương mại lớn, đang nằm tập trung trong máy chủ của những bên trung gian này. Câu hỏi đặt ra là: Ai giám sát những máy chủ đó? Khi dữ liệu nằm trong tay những bên thiếu cơ chế kiểm soát kỹ thuật và pháp lý nghiêm ngặt, việc tác phẩm bị "tuồn" ra ngoài là một nguy cơ hiện hữu. Tôi kiến nghị lực lượng an ninh mạng cần vào cuộc thanh tra, truy xét quy trình quản lý dữ liệu của các phần mềm thi ảnh tư nhân hiện nay để bảo vệ tài sản số cho giới nghệ sĩ.



Từ ảnh "chùa" đến những hệ lụy cay đắng cho chính chủ

Hành trình xâm hại tác phẩm thường diễn ra tinh vi: kẻ vi phạm thu thập ảnh từ mạng xã hội, các trang web in ấn, hoặc trích xuất từ các hệ thống dữ liệu lỏng lẻo. Họ thản nhiên xóa watermark, cắt xén bố cục để biến một tác phẩm tâm huyết thành một "món hàng" vô danh.

Cay đắng hơn, chính những bức ảnh bị sử dụng trái phép này lại trở thành "nhát dao" quay ngược lại phía tác giả. Đã có trường hợp nghệ sĩ đi dự thi, đạt giải, nhưng sau đó bị tước giải thưởng chỉ vì tác phẩm đó đã bị các trang tin, doanh nghiệp tự ý đăng tải trước đó mà tác giả không hề hay biết. Đây là sự bất công tột cùng: Tác giả không chỉ mất quyền sở hữu mà còn bị ảnh hưởng đến uy tín, danh dự nghề nghiệp vì lỗi lầm của kẻ đánh cắp.

Tiếng chuông báo động về sự vô đạo, vô pháp

Sự "vô đạo, vô pháp" trong việc dùng ảnh không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn bào mòn nhiệt huyết sáng tạo. Để có một tấm hình vùng cao hùng vĩ hay một bức chân dung lịch sử, người cầm máy phải băng rừng lội suối, đối mặt với hiểm nguy. Việc các cơ quan báo chí, doanh nghiệp và cả các tổ chức hội nghề nghiệp chưa thực sự quyết liệt bảo vệ hội viên đã vô hình trung dung dưỡng cho thói quen xài ảnh "chùa" bành trướng.

Kiến nghị: Truy xét tận gốc, xử lý nghiêm minh

Để trả lại sự trong sạch cho môi trường nhiếp ảnh, tôi kiến nghị:

Thanh tra các nền tảng thi ảnh: Cơ quan công an cần kiểm tra tính bảo mật và quy trình lưu trữ dữ liệu của các phần mềm thi ảnh online đang phổ biến.

Truy vết và bồi thường: Cần có cơ chế truy xét đến cùng đơn vị nào là người đầu tiên phát tán ảnh trái phép. Các cơ quan báo chí, doanh nghiệp dùng ảnh không bản quyền phải chịu trách nhiệm liên đới và bồi thường thỏa đáng.

Lập "danh sách đen": Công khai các tổ chức, cá nhân, phần mềm thường xuyên để xảy ra sai phạm về bản quyền.

Bảo vệ danh dự tác giả: Các Ban tổ chức cuộc thi cần có cơ chế thẩm định khách quan, không thể vì một bức ảnh bị kẻ khác "đăng lậu" mà vội vàng tước đi thành quả chân chính của nghệ sĩ.

Đã đến lúc chúng ta phải hành động để bảo vệ lòng tự trọng của người cầm máy. Truy xét tận gốc đường đi của tác phẩm không chỉ là bảo vệ bản quyền, mà chính là bảo vệ sự phát triển bền vững của nền nghệ thuật nước nhà.

Kỳ Nam

Vi phạm bản quyền nhiếp ảnh: Cần truy xét tận gốc 'đường đi' của tác phẩm

24/4/25

ƠN NGƯỜI

Khi tôi lạc bước giữa đường
Em đưa tay nắm, tình thương nhiệm màu
Giữa đời giông bão lao xao
Một lời an ủi, nghìn sao rọi lòng

Không mong báo đáp, kể công
Chỉ trao chút ấm giữa dòng đời trôi
Ơn em, tôi giữ trọn đời
Như mầm hoa nhỏ giữa trời sắc xuân

Dẫu đời còn lắm gian truân
Thôi thì tự nhủ, tự mình vượt qua
Bão dông chìm nổi phong ba
Bền gan vững chí, can qua tháng ngày

Biết rằng trời rộng đất dày
Tim đâu dễ gặp một người thương ta
Yêu nhau về sống một nhà
Sum vầy hạnh phúc đấy là quý nhân

Hôm nay tôi đã vững chân
Không quên ký ức ân cần hôm xưa
Nếu mai đời lại gió mưa
Nguyện làm ngọn gió chở đưa nghĩa tình.


KN. 4/2025


11/2/25

Xuân về nơi địa đầu Tổ quốc

Một trong những điều khiến Hà Giang trở thành điểm du lịch hấp dẫn dịp đầu Xuân là sự kết hợp tuyệt vời giữa thiên nhiên hoang sơ, không khí trong lành và những nét văn hóa độc đáo.
Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới ở cực bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng. Phía bắc và phía tây có đường biên giới giáp Trung Quốc, dài 274km, trong đó Lũng Cú là điểm cực bắc. Phát triển du lịch trên vùng địa hình với 90% là núi đá vôi, thiếu đất canh tác được coi là mũi nhọn cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân, lan tỏa và bảo tồn những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống đến khách du lịch trong nước và quốc tế, góp phần gìn giữ và bảo vệ biên giới và toàn vẹn lãnh thổ. Phong cảnh hùng vĩ của núi rừng biên ải cùng nền văn hóa đặc sắc của 19 dân tộc với nhiều phong tục tập quán, lễ hội truyền thống đã đưa Hà Giang trở thành địa danh hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.
Vượt cung đường đông bắc, chúng tôi đến với Hà Giang ngay những ngày đầu tiên của năm mới Ất Tỵ. Con đường quanh co, đèo cao, vực sâu không cản được tình yêu với Hà Giang. Khoảng cách hơn 400km như ngắn lại bởi được ngắm khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ với điệp trùng núi non với những em bé với những giỏ hoa cải rực vàng sau tấm lưng bé nhỏ, những mái ngói cổ rêu phong, những bức tường đá đan xen với sắc hoa của đào, mận, những đoàn xe hối hả vượt những con dốc dài lên cao nguyên đá.
Những năm gần đây, các cấp chính quyền tỉnh Hà Giang đã có chính sách và định hướng chiến lược cho phát triển du lịch tại địa phương. Một trong những xã được quy hoạch trọng điểm là Lũng Cú, nơi có làng cổ Lô Lô Chải cùng danh thắng quốc gia cột cờ Lũng Cú. Được hình thành cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII, làng Lô Lô Chải nằm ngay dưới chân cột cờ Lũng Cú, là nơi sinh sống chủ yếu của người Lô Lô – một trong những dân tộc thiểu số có văn hóa đặc sắc với trống đồng cổ, chữ viết tượng hình, những điệu múa, làn điệu dân ca, các truyện cổ.
Làng cổ Lô Lô Chải nằm yên bình giữa núi rừng nơi địa đầu Tổ quốc, với 52 homestay xen kẽ trong 120 hộ gia đình người Lô Lô và Mông, mỗi homestay mang nét kiến trúc mộc mạc, độc đáo riêng cùng cách trang trí đặc sắc của người Lô Lô: những ngôi nhà trình tường, mái ngói âm dương, bức tường đá rêu phong bên những con đường nhỏ quanh co dưới bóng cây sa mộc, những vườn cải vàng trước sân nhà…
Năm 2018, Lô Lô Chải được công nhận Làng văn hóa du lịch cộng đồng, được nhà nước đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, đường bê tông, xây dựng các làng nghề, các công trình phụ trợ, thực hiện tốt 10 tiêu chí xây dựng Làng văn hóa du lịch gắn với xây dựng Nông thôn mới.
Vài năm gần đây, nhiều du khách biết đến vẻ đẹp của Lô Lô Chải thông qua các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Những ngày cuối tuần, Làng du lịch cộng đồng này đón hàng ngàn du khách. Nơi đây được coi là điểm đến không thể bỏ qua của du khách mỗi khi đến Hà Giang khiến đôi khi ngôi làng quá tải so với cơ sở vật chất hiện có, đặc biệt là thiếu nước sinh hoạt và lưới điện không đủ công suất.
Chia sẻ với phóng viên, Ông Lý Hùng, Bí thư xã Lũng Cú, cho biết: “Phát huy tiềm năng của làng cổ, tạo điều kiện cho bà con đầu tư phát triển du lịch cộng đồng, địa phương đã đầu tư xây dựng trạm biến thế điện, hồ treo tích trữ nước phục vụ đời sống và kinh doanh du lịch cho thôn Lô Lô Chải. Tuy nhiên, do địa hình phức tạp, lượng mưa ít nên vào mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 4, không chỉ nơi đây mà nhiều nơi khác tại Hà Giang đều thiếu nước nghiêm trọng. Các cấp chính quyền đang tìm giải pháp khắc phục. Việc bơm nước từ sông Nho Quế lên tới Lũng Cú với chiều dài 8km lại phải qua nhiều núi cao, vực sâu nên rất khó khăn, đỏi hòi kinh phí lớn mới làm được, hơn nữa Hà Giang là một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước nên rất cần sự hỗ trợ từ Trung ương và các nhà tài trợ”.
Ông Nguyễn Vũ Hà, chủ Long Cổ Trấn Homestay & Tea, cho biết: “Hà Giang vốn là tỉnh nghèo, nhiều điều kiện về địa chất, khí hậu, thổ nhưỡng không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, chỉ có du lịch sẽ là cứu cánh cho đời sống người dân. Nếu được nhà nước chú trọng đầu tư cho phát triển du lịch một cách chuyên nghiệp và bài bản, với mỗi dân tộc có một làng du lịch cộng đồng như Lô Lô Chải, chắc chắn Hà Giang sẽ thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Mặt khác, nếu Bộ Công an xem xét miễn khoản thu phí tạm trú khu vực biên giới cho du khách nước ngoài và cho phép sử dụng ứng dụng khai báo thông qua mạng internet đối với các cơ sở kinh doanh du lịch sẽ là những lợi thế thu hút khách du lịch nước ngoài đến với Hà Giang nhiều hơn.” Rời Hà Giang trong tiết trời mưa phùn giá lạnh 6 độ C, bâng khuâng nghĩ về một vùng cao nguyên đá, nơi bà con dân tộc còn vất vả, khó khăn, gùi từng bao đất dưới thung lũng xa để lấp đầy những khe đá trên núi cao lấy chỗ trồng ngô, trồng từng vạt cỏ voi nuôi trâu, bò mà chẳng bao giờ than khổ cùng ai. Văng vẳng bên tai khúc hát về Hà Giang của cố nhạc sỹ Thanh Phúc: “Ai về thăm quê hương tôi, nơi biên cương là đây, có rừng cây thiên nhiên xanh biếc một màu. Đây Hà Giang, đây Hà Giang quê chúng tôi. Gỗ vùng cao về xuôi thay đời mới, thắm tình nghĩa miền xuôi với miền ngược, có ai về khơi thêm nguồn hàng mời lên thăm đây Hà Giang. Ôi đẹp sao, đây vùng cao quê tôi đang đổi mới. Này quà vùng cao đem tới miền xuôi, cây chè quê tôi vui những ai hẹn hò. Hà Giang mến yêu ơi, Hà Giang mến yêu ơi. Bài và ảnh: Kỳ Nam https://vovworld.vn/vi-VN/media/xuan-ve-noi-dia-dau-to-quoc-1366002.vov

10/12/24

NGHỀ NẤU RƯƠU NGÔ MEN LÁ Ở BẮC HÀ

Nghề nấu rượu ngô men lá ở Bắc Hà là một trong những nghề truyền thống lâu đời của đồng bào dân tộc H'Mông và các dân tộc khác ở vùng núi Tây Bắc, đặc biệt là ở Bản Phố, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Đây là một nghề thủ công độc đáo, mang đậm dấu ấn văn hóa và truyền thống của người dân nơi đây. Nghề nấu rượu ngô men lá ở Bắc Hà sử dụng ngô (bắp) làm nguyên liệu chính, kết hợp với men lá đặc biệt để lên men, tạo ra loại rượu có hương vị rất riêng biệt. Quy trình nấu rượu ngô men lá thường bao gồm các bước cơ bản sau: Ngô được chọn phải là loại ngô nếp ngon, không bị sâu bệnh. Ngô này sẽ được ngâm trong nước qua một đêm để dễ dàng làm nở và lên men. Ngô sau khi ngâm sẽ được nấu chín, sau đó để nguội và lên men. Công đoạn nấu ngô khá công phu, yêu cầu người thợ nấu phải có kinh nghiệm để tránh làm ngô bị cháy hay quá mềm. Men lá là một loại "men tự nhiên", được làm từ lá cây rừng, gồm các loại lá như lá đinh lăng, lá vối, lá cây thuốc nam... Các loại lá này sau khi được thu hái sẽ được phơi khô, nghiền thành bột và trộn với một số loại gia vị đặc trưng để tạo ra men lá. Men lá này có tác dụng giúp rượu lên men nhanh chóng và tạo ra hương vị đặc trưng. Sau khi nấu chín ngô và chuẩn bị men lá, người thợ sẽ trộn men vào ngô đã được nấu chín rồi cho vào chum, vại để lên men. Quá trình này thường kéo dài từ 3 đến 5 ngày, tùy theo nhiệt độ và độ ẩm của vùng. Sau khi ngô đã lên men, người thợ tiến hành chưng cất để tách rượu ra khỏi phần bã ngô. Quá trình chưng cất rượu ngô truyền thống ở Bắc Hà thường được thực hiện trong nồi chưng cất bằng đồng hoặc bằng đất nung. Quá trình này yêu cầu người thợ phải có kỹ thuật và kinh nghiệm để rượu không bị quá cay hay quá nhạt. Rượu ngô men lá Bắc Hà có màu trắng trong suốt, có mùi thơm đặc trưng của ngô nếp và men lá tự nhiên. Vị rượu ngọt ngào, êm dịu khi mới uống, nhưng lại có chút cay nồng ở cổ họng, tạo cảm giác ấm áp, dễ chịu. Loại rượu này thường được sử dụng trong các dịp lễ hội, đám cưới, hoặc để tiếp khách quý. Nghề nấu rượu ngô men lá không chỉ là một nghề mưu sinh mà còn mang giá trị văn hóa đặc sắc. Rượu ngô là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân Bắc Hà, đặc biệt trong các lễ hội, nghi lễ truyền thống. Nó thể hiện sự hiếu khách, sự trân trọng đối với những người bạn đến thăm và cũng là sản phẩm mang đậm dấu ấn bản sắc văn hóa của vùng núi Tây Bắc. Bên cạnh đó, nghề nấu rượu ngô cũng là một phần quan trọng trong kinh tế của người dân địa phương. Rượu ngô không chỉ được tiêu thụ trong cộng đồng mà còn được bán ra ngoài, phục vụ du khách đến thăm Bắc Hà. Với sự phát triển của du lịch và nhu cầu tìm kiếm các sản phẩm đặc sản, nghề nấu rượu ngô men lá đang có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, để nghề truyền thống này không bị mai một, việc bảo tồn và phát huy các kỹ thuật nấu rượu cũng như phát triển thị trường tiêu thụ là điều cần thiết. Chính vì vậy, nhiều dự án bảo tồn nghề truyền thống và hỗ trợ người dân Bắc Hà sản xuất rượu ngô đã được triển khai, giúp bảo vệ giá trị văn hóa và tăng thu nhập cho cộng đồng. Nhìn chung, nghề nấu rượu ngô men lá ở Bắc Hà là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc Tây Bắc, là sản phẩm độc đáo mà du khách đến thăm vùng đất này không thể bỏ qua.

Bài đăng nổi bật

  BẢO VỆ “QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ” NHIẾP ẢNH – CHÌA KHOÁ MỞ CỬA CHO CÔNG NGHIỆP VĂN HOÁ VIỆT NAM Ngày 14/11/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành ...